Sunday, April 14, 2013

Từ đạo Cao Đài đến với Chúa Giê-su

http://hung227.files.wordpress.com/2011/11/tinhque.jpeg
( Thân tặng chị Huỳnh Mai tại Hội thánh El Monte và anh chị em về với Chúa từ Cao Đài )
Nguyễn Quốc Thái.

          Không hiểu sao trong lúc bệnh lần này tôi có ý định viết một bài làm chứng về cuộc đời tin kính của tôi, tôi cảm nhận rằng việc đó, có một chương trình sắp đặt của Đức Chúa Trời từ khi tôi bắt đầu phải tranh đấu cam go cho cuộc hôn nhân của tôi.
         Lúc còn nhỏ, tôi đã từng theo gia đình đi lễ rằm, mùng một hằng tháng đến cúng lễ trong Thánh thất đạo Cao Đài xa hằng 5 đến  7 cây số, đôi chân bé nhỏ đi qua những con đường sỏi đá dưới trời nắng gay gắt; lúc gặp mùa lụt phải lặn lội đi trên chiếc cầu khỉ cheo leo nguy hiểm, vì những suối nước đã ngập… Và cứ thế tôi lớn lên cho đến lúc thiếu niên, vào học một trường tiểu học của đạo. Lớn hơn một chút nữa thì tuyên thệ gia nhập đạo Cao Đài, lời tuyên thệ rất ghê rợn đối với những người thưở đó (thập niên 1940-1950) trong đó có câu  “ … nếu trái lời thì bị ngũ lôi thần hành phạt tại thế”. Đến tuổi thanh niên theo học những lớp giáo lý, giáo luật v.v… cho đến khi tôi thuộc rõ nằm lòng.
          Thời Pháp thuộc các nhà cầm quyền địa phương thường hay xét nhà và gây rắc rối, rồi  đến thời chiến tranh lại bị khốn đốn trăm điều.Tôi được may mắn đọc sách nhiều nên tâm trí được mở mang hơn, tôi liền có sự nghi ngờ những điều mình đã tin nhưng chưa có thái độ gì.
          Trong chiến tranh Việt Pháp tôi ở vùng kháng chiến. Tôi và nhà tôi (vợ tôi) ở cùng xóm, hay đi sinh hoạt thanh niên với nhau, rồi cảm mến nhau nhưng gia đình chưa biết, vì gia đình bên vợ tôi thuộc giáo phái Tin lành, và sự khác tôn giáo đó là rào cản lớn nhất. Từ năm 1952 kéo dài đến 1954, gia đình nhà tôi mới biết được và nhiều việc rắc rối xảy ra. Vì tôi có công tác trong đoàn thanh niên xã, nên đoàn thể đến vận động và đã bị phản đối kịch liệt.
           Trải qua 6 tháng trường thân sinh của vợ tôi tìm đủ mọi mưu kế cách li chúng chúng tôi, có lúc đã xin giấy phép cho nhà tôi về ở với bà ngoại thuộc vùng Pháp chiếm đóng, vì như thế tôi không thể vào vùng ấy được.
      Nhà tôi cho biết tin ấy, tôi tìm cách chận đứng kế hoạch của “ông già vợ” tương lai, nhưng chẳng có cách gì tiến đến hôn nhân. Cuối cùng tôi tìm đến hỏi ý kiến hai người trí thức có Nho học, hai cụ đều có cùng một ý kiến. Trong binh pháp có 36 kế, kế thứ 36 là “tẩu”, có nghĩa là bỏ trốn. (Tam thập lục kế dĩ đào vi thượng sách). Thế là tôi kể cho nhà tôi biết ý kiến của hai nhân sĩ, và vận động bà bỏ trốn cùng tôi trong 1 tháng rồi sẽ trở về thì mọi việc đã rồi. Thật ra nhà tôi không dễ nghe theo đâu, nhưng có một điều tôi biết chắc là vì yêu tôi một phần, phần nữa là bị mẹ la mắng hoài, đối xử cay nghiệt… nên bà nghe theo tôi. Chúng tôi đã đến với một anh bạn thân của  anh trai tôi, anh ấy rất thương tôi nên bảo bọc cho chúng tôi. Sau gần một tháng tôi trở về. Lúc này lại nhằm hiệp định đình chiến Geneve ra đời, sau một tháng ông bà gọi chúng tôi đến ngỏ ý rằng: chiến tranh dai dẳng mà còn chấm dứt thì sao việc gia đình lại không thể. Từ đó ông bà khuyên nhủ chúng tôi hãy tiếp nhận Chúa. Tôi chỉ nghe rồi thôi không tiếp nhận lời kêu gọi của ông bà.
          Về nhà chúng tôi tổ chức lại cuộc sống mới cũng tạm ổn, nhưng tình cảm gia đình chẳng tiến triển mà thêm lạt lẽo. Chúng tôi bán hết ruộng trâu đi vào Ninh thuận trồng thuốc lá, cuộc sống dần dần ổn định, lâu lâu được thư gia đình khuyên nhủ. Còn nhờ ông Mục sư N.L.T ở Phan rang đến giảng đạo cho tôi, tôi đã tranh luận gắt gao, họ chán quá bỏ cuộc, tuy vậy thư từ vẫn gởi đến.
          Có một hôm đi làm về, nhà tôi đưa tôi một phong bì, lần này thư dài hơn, báo cho biết ông bà đã đi hầu việc Chúa trong Hội Truyền Giáo Cơ Đốc. (Ông bà trước chiến tranh có học trường Kinh Thánh Tin Lành ở Đà nẵng, nhưng gặp lúc chiến tranh Nhật Pháp nên về nghỉ). Ông bà khuyên chúng tôi về tiếp nhận Chúa, tương lai vào trường Kinh Thánh học. Xem thư xong cũng như mọi khi, tôi để đó và đi ăn cơm, chẳng tỏ thái độ gì. Đêm đó, ngủ đến độ một giờ sáng, đang ngủ say sưa, trong mơ màng nghe như có tiếng rì rầm văng vẳng, càng lúc càng rõ hơn và nghe cả tiếng thổn thức. Lần lần tôi tỉnh ra và biết rằng vợ tôi đang cầu nguyện và khóc thổn thức. Để cho bà cầu nguyện xong nằm xuống, tôi hỏi nếu anh nghe lời cha mẹ trở về, em có vui không? Vợ tôi cười khảy vì bà biết rằng tôi rất cứng đầu, khó có việc đó. Từ đó về sáng tôi không ngủ được, chỉ suy nghĩ, cân nhắc về giáo lý Cao Đài. Cao Đài lý luận rằng: Vạn giáo nhất lý, nghĩa là dù có muôn tôn giáo nhưng chân lý chỉ có một. Chứng minh bằng một ví dụ: một cái lồng đèn 5 cạnh, năm mặt kính khác nhau: đen, đỏ, tím, vàng, xanh. Người nhìn vào mặt kính màu nào thì thấy ngọn đèn màu đó… Các tôn giáo cũng vậy, mỗi tôn giáo khác nhau nhưng chân lý như ngọn đèn ở giữa đều giống nhau, ở đâu cũng nhận được sự cứu rỗi.

          Tôi đem điều này cân nhắc và đi đến một kết luận: Theo lý luận này thì ở Cao Đài, nếu tu thân, tránh ác, theo lành thì ở Cơ Đốc giáo sống như vậy cũng được cứu… tôi suy nghĩ vợ tôi vì thương tôi đành rời cha mẹ để theo tôi, mà vẫn nhớ thương cha mẹ, tại sao tôi cố chấp không trở về để có cả sự cứu rỗi và vợ mình được hòa hợp với gia đình. Sáng ra tôi hỏi ý kiến ông anh tôi, ông ta bác bỏ… 


          Trong thư nhạc phụ tôi có hẹn nếu đồng ý thì cuối tháng về gặp nhau ở Đà nẵng. Lúc bấy giờ ông đang hầu việc Chúa ở Cam lộ Quảng trị. Tôi xuống thị xã đánh điện tín xin phép cho suy nghĩ 15 ngày sẽ có tin trả lời. Tôi tiếp tục vừa đi làm vừa suy nghĩ, chỉ một tuần thôi tôi thấy lý luận mình là đúng và quyết định về nhà, sau đó gởi điện tín báo sẽ về y hẹn.
          Khi chúng tôi về gặp lại gia đình, cả nhà ôm vợ tôi khóc lóc trong mừng rỡ, (1 năm cách trở) xem như chúng tôi là chàng con trai hoang đàng trong Kinh thánh.
          Tôi bắt đầu học cầu nguyện, học tín điều, học mục lục để biết giở Kinh thánh v.v… Tám tháng sau tôi được nhận vào trường Kinh thánh. Ban giám đốc trao cho mỗi người một tờ giấy và tự viết những ý tưởng vào đó. Tôi viết vào đó quan điểm của tôi mọi mặt, kể ra những tính xấu, cũng kể ra cả việc lấy vợ của mình v.v… Ông hiệu trưởng nói với nhạc phụ tôi: thằng rể của ông tái sinh rồi, ông già vợ mừng lắm kể lại tôi nghe. Trong lớp học là những thanh niên tuổi đạo nhiều năm, tôi mới 8 tháng, tôi phải nổ lực để học, tháng đầu rất lận đận, sau đó tôi bắt kịp họ…
          Học được bốn tháng, vào những ngày thứ bảy trường cho học viên nghỉ ngơi và dạo chơi, một thứ bảy nọ trong khi anh em đi hết tôi ở nhà một mình học bài… khi đọc đến lời cầu nguyện của Chúa Giê-su rất quen thuộc lúc bị đóng đinh: “Xin Cha tha tội cho họ vì họ làm điều mà mình không biết”, nhưng  khi đọc lần này tôi cảm thấy hai bên thái dương của mình tê tái, lòng thì xúc  động… vì bổng nhiên nhận ra chỉ có tình yêu vĩ đại mới có thể cầu nguyện cho kể đã giết mình ngay lúc sắp lìa đời.
          Xúc động, tôi quì gối xuống cầu nguyện tiếp nhận Chúa… Thế là từ trước đến lúc đó, kể cả sau khi chịu báp têm, tôi vẫn giữ quan niệm Chúa Giê-su là một giáo chủ  như Thích ca, Khổng tử v.v…và lúc bấy giờ tôi mới cảm nhận Chúa là Đấng Cứu Chuộc duy nhất.
          Tôi cảm nhận rằng Chúa đã sắp xếp chương trình của Ngài để cứu tôi từ khi tôi bắt đầu yêu vợ tôi. Thật ra đã có lần tôi quyết định bỏ cuộc và đã viết thư “đoạn tuyệt”, vì tôi biết rằng khi yêu nhà tôi thì sẽ bị chống đối và gặp vô vàn khó khăn, nhưng sau đó vì vợ tôi quá yêu tôi nên chúng tôi bỏ ý định chia tay.
          Tôi xin chia xẻ lời chứng này cho hết thảy con cái Chúa. Cầu xin Chúa cảm động hết thảy những ai khi đọc bài chứng này mà cảm nhận mình chưa tin Chúa thật sự.


Nguyễn Quốc Thái.

(Bài chứng sắp đến: Từ ngày thứ nhất đến ngày Sa-bát).




No comments:

Post a Comment

Post a Comment